Cổng thông tin điện tử huyện Giang Thành

Kinh tế - Chính trị

Xem với cỡ chữAA

NHÌN LẠI CHẶN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN GIANG THÀNH SAU 10 NĂM THÀNH LẬP

(13:29 | 10/07/2020)

Giang Thành là huyện biên giới, có đường biên dài khoảng 42,8km giáp Vương quốc Campuchia; huyện có 5 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Phú Mỹ, Phú Lợi, Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú.

Ngày 29-6-2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 29/2009/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Kiên Lương thành lập huyện Giang Thành; tổ chức lễ công bố và đi vào hoạt động từ ngày 02-9-2009. Huyện có diện tích tự nhiên hơn 41.284 ha; địa giới phía Đông giáp huyện Hòn Đất-Kiên Giang và Tri Tôn-An Giang, Tây giáp Hà Tiên-Kiên Giang và Vương Quốc Campuchia, Nam giáp huyện Kiên Lương-Kiên Giang và TP. Hà Tiên-Kiên Giang, Bắc giáp Campuchia. Giang Thành là huyện biên giới, có đường biên dài khoảng 42,8km giáp Vương quốc Campuchia; huyện có 5 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Phú Mỹ, Phú Lợi, Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú. Khi mới thành lập, dân số của huyện là 28.910 người, đến nay có 30.435 người, dân tộc Khmer chiếm 20% dân số.

Giai đoạn đầu mới thành lập, Trung ương, tỉnh có nhiều chủ trương, chính sách tập trung đầu tư phát triển kinh tế-xã hội đối với vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số nên huyện được ưu tiên thụ hưởng nhiều dự án đầu tư kết cấu hạ tầng, an sinh xã hội... Tuy nhiên, huyện còn rất nhiều khó khăn như: điểm xuất phát thấp, xa trung tâm kinh tế-văn hóa của tỉnh, nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới, nhu cầu cho quốc phòng, an ninh rất lớn nhưng nguồn lực chưa đủ đáp ứng; kinh tế của huyện chủ yếu là nông nghiệp dễ chịu tác động bất lợi khó lường do biến đổi khí hậu, mặn xâm nhập, thị trường tiêu thụ; tỷ lệ hộ nghèo cao; tranh chấp, khiếu kiện, lấn chiếm về đất đai còn phức tạp;.... Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, quân và dân trong huyện có nhiều nỗ lực, cố gắng vượt qua khó khăn cùng với sự đoàn kết, nhất trí của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện thực hiện đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.

* Kinh tế của huyện luôn giữ ổn định và phát triển

Nếu như năm 2009, giá trị sản xuất ước đạt 2.228 tỷ đồng thì đến cuối năm 2019, giá trị sản xuất ước đạt 4.219 tỷ đồng, tăng 1.991 tỷ đồng (tăng gần gấp đôi so với năm 2009).

Xác định nông nghiệp là ngành sản xuất chính của nhân dân trong huyện, nên đã tập trung lãnh đạo theo hướng sản xuất an toàn, ưu tiên mở rộng diện tích cánh đồng lớn gắn với hạ tầng nông nghiệp, thường xuyên nạo vét các tuyến kênh đảm bảo nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất, đầu tư bờ bao, thủy lợi nội đồng, trạm bơm điện, phát triển kinh tế tập thể, áp dụng các chính sách hỗ trợ và liên kết doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm,...; qua đó, có điều kiện tăng năng suất, sản lượng và giá trị trên đơn vị diện tích. Năm 2019 sản lượng lúa đạt hơn 400.000 tấn, tăng 2,5 lần so với năm 2009 và đã vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2015-2020 (Khoá XII) của huyện đề ra (NQ 390.000 tấn).

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng được mở rộng, đa dạng mô hình sản xuất; hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân chuyển đổi trên 500 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng màu chuyên canh và xen canh([1]), trồng cây ăn trái diện tích trên 110 ha([2]) (hiện đã có 43 ha đang cho trái), bước đầu mang lại hiệu quả. Phát triển mô hình trồng lúa trên nền đất nuôi tôm quảng canh (lúa - tôm) diện tích 70 ha theo hướng an toàn và liên kết với doanh nghiệp cho lợi nhuận cao hơn so với sản xuất lúa 2 vụ, góp phần bảo vệ môi trường vùng nuôi tôm, phát triển bền vững sản xuất tôm - lúa theo quy hoạch.

Nuôi trồng thủy sản được quan tâm đầu tư, phát triển cả về diện tích và sản lượng; các mô hình nuôi công nghệ cao, nuôi kết hợp được nhiều hộ gia đình lựa chọn và tiếp tục được nhân rộng. Năm 2019, sản lượng tôm nuôi đạt 6.740 tấn, tăng hơn 2,3 lần so với năm 2009.

Là địa bàn biên giới, lại có kết cấu hạ tầng giao thông, kinh tế chậm phát triển, được tỉnh đặc biệt quan tâm hỗ trợ đầu tư giao thông nông thôn đến nay tỷ lệ cứng hóa đường giao thông nông thôn đạt 82% (năm 2009 chỉ 15%), từ lồng ghép các nguồn vốn đầu tư trên 745 tỷ đồng cho trên 800 công trình, dự án; ngoài nguồn ngân sách, vận động nguồn lực xã hội hóa từ các doanh nghiệp và nhà hảo tâm, từ thiện hàng trăm tỷ đồng: Tổng công ty xi măng Việt Nam đầu tư 29 tỷ đồng xây dựng Trường TH&THCS Vĩnh Phú B, cầu và đường T3; các công ty thuộc Tập đoàn dầu khí Việt Nam hỗ trợ 25 tỷ đồng xây dựng Trường THCS Phú Mỹ; vận động nhân dân và các mạnh thường quân đóng góp xây mới và sửa chữa 118 cây cầu nông thôn, gần 9 km đường giao thông nông thôn và 7.816 ngày công lao động, hiến 6.175 m2 đất để xây dựng trường học,...

Việc hoàn thành đường và cầu cửa khẩu giúp giao thông thuận lợi, doanh thu từ thương mại - dịch vụ, xuất nhập khẩu tăng cao; giá trị kim ngạch xuất khẩu 7,616 triệu USD (tăng 7,121 triệu USD so với năm 2009). Thu ngân sách trên địa bàn hằng năm đều đạt kế hoạch, năm 2019 là 35 tỷ đồng, tăng 33 tỷ đồng so năm đầu thành lập huyện và gần đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện.

Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ qua, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng tích cực, lồng ghép các nguồn vốn ngân sách bố trí xây dựng nông thôn mới gần 550 tỷ đồng([3]), vận động các doanh nghiệp và nhân dân đóng góp xây dựng cầu, đường giao thông nông thôn và hiến đất để xây dựng trường học với tổng số vốn khoảng 40 tỷ đồng([4]). Các dự án hỗ trợ sản xuất được triển khai kịp thời, hiệu quả góp phần nâng cao thu nhập, đời sống tinh thần của nhân dân, bộ mặt nông thôn, dân cư có nhiều thay đổi, khang trang hơn, an ninh trật tự giảm bớt phức tạp([5]). Đến nay có 2/5 xã (Phú Mỹ, Tân Khánh Hòa) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (đạt chỉ tiêu NQ); các xã còn lại đạt từ 13 đến 17 tiêu chí([6]). Thu nhập bình quân đầu người theo tiêu chí nông thôn mới ước tính 46,08 triệu đồng/người/năm.

* Văn hóa - xã hội có chuyển biến tiến bộ trên nhiều mặt

Giáo dục-đào tạo chất lượng ngày càng được nâng lên, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực của địa phương . Thực hiện tốt việc huy động và duy trì sĩ số học sinh đến trường, tỷ lệ học sinh bỏ học thấp hơn so với quy định; phòng học đảm bảo cho việc dạy và học, không còn phòng học tạm bợ; huyện có 16 trường (5 Mầm non, 5 Tiểu học, 5 THCS và 01 trường THPT Thoại Ngọc Hầu) tăng 7 trường so với năm 2009; có 8/15 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 8 trường so với năm 2009. Đội ngũ nhà giáo có trách nhiệm, nhiệt tình và chất lượng; kết quả học tập của học sinh năm sau cao hơn năm trước; tỷ lệ tốt nghiệp THPT của Trường THPT Thoại Ngọc Hầu cao hơn bình quân chung của tỉnh, các kỳ thi THPT quốc gia những năm gần đây đều đạt tỷ lệ 100% và có tỷ lệ rất cao được xét tuyển vào cao đẳng, đại học.

Công tác chăm lo các vấn đề xã hội và an sinh xã hội được quan tâm thực hiện kịp thời. Hàng năm, ngân sách nhà nước chi trợ cấp cho đối tượng chính sách trên 3,5 tỷ đồng. Triển khai thực hiện tốt công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, cất mới và sửa chữa 238 căn nhà tình nghĩa, tổng trị giá trên 9 tỷ đồng, cơ bản các gia đình chính sách đểu có nhà ở ổn định. Bằng nhiều giải pháp tích cực và đồng bộ, số hộ nghèo trong huyện đã giảm từ 10,49% năm 2009 xuống còn 3,4% năm 2015; năm 2015 đánh giá hộ nghèo theo chuẩn đa chiều toàn huyện có tỷ lệ hộ nghèo 25,24% đến nay giảm còn 7,96% (bình quân mỗi năm giảm trên 4%), hộ cận nghèo là 7,03%. Vận động “Quỹ vì người nghèo” trên 9,4 tỷ đồng, triển khai cất 577 căn nhà Đại đoàn kết. Giải quyết việc làm cho hơn 10.000 lượt lao động; mở 88 lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho hơn 2.358 lao động. Chất lượng khám và điều trị bệnh có chuyển biến nâng lên; chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, không để phát sinh các ổ dịch lớn; 05/05 xã đều đạt bộ tiêu chí quốc gia về Y tế xã.

Là huyện có trên 20% đồng bào dân tộc thiểu số và có mối quan hệ gần gũi, thân tộc, dòng họ với nhân dân phía Campuchia nên Đảng bộ dành nhiều sự quan tâm chăm lo đặc biệt về thực hiện các dự án chính sách hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, hỗ trợ cất nhà ở, phương tiện, dụng cụ, vật tư sản xuất… Tổ chức các hoạt động giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, ổn định cuộc sống tại địa phương và sinh khí vui tươi, đầm ấm, gắn bó cộng đồng dân cư nhân các ngày lễ, tết của đồng bào như: Chôl Chnăm Thmây, lễ Sene Đôn Ta, Okombok…

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, thông tin, tuyên truyền được duy trì và phát triển. Tổ chức nhiều hoạt động nhân kỷ niệm các ngày lễ, tết, các sự kiện chính trị của huyện. Các thiết chế văn hóa được quan tâm, xây dựng 03/5 Trung tâm văn hóa xã, 29/29 ấp có nhà văn hóa. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu. Năm 2009 có 70% hộ gia đình, 30% ấp và 90% đơn vị đạt chuẩn văn hóa, đến năm 2019  có 91,24% gia đình văn hoá; 100% ấp văn hoá, 96,15% cơ quan, đơn vị văn hóa.

* Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo

Cùng với việc lãnh đạo tập trung chăm lo phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ bảo vệ biên giới, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Kịp thời triển khai, quán triệt thực hiện nghiêm túc các chủ trương, nghị quyết, chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về an ninh, quốc phòng, quân sự địa phương, công tác phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự...; kịp thời củng cố xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân được tăng cường. Lực lượng vũ trang tiếp tục được củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng, kịp thời đấu tranh và ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm. Các cấp ủy, chính quyền thường xuyên quan tâm chỉ đạo xây dựng lực lượng DQTV-DBĐV đảm bảo theo yêu cầu, công tác huấn luyện, diễn tập, bồi dưỡng giáo dục kiến thức QP-AN, công tác tuyển, chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm đều đạt chỉ tiêu trên giao. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt 2,49% so với dân số, đảng viên chiếm 22%, vượt chỉ tiêu NQĐH của huyện; các công trình chiến đấu trong khu vực phòng thủ, đường tuần tra biên giới được triển khai, đưa vào hoạt động 4 chốt dân quân, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia.

Công tác đối ngoại với chính quyền và lực lượng vũ trang giữa các huyện giáp biên được mở rộng và đi vào chiều sâu, phối hợp giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh trên tuyến biên giới; tổ chức các đoàn sang thăm hỏi lẫn nhau nhân dịp lễ, tết. Đối ngoại nhân dân dược tăng cường, tổ chức các hoạt động hỗ trợ an sinh xã hội, khám và cấp thuốc y tế, cất nhà ở cho người nghèo, hoạt động văn nghệ-thể thao giữa nhân dân các huyện giáp biên.... Tổ chức ký kết nghĩa giữa các ấp giáp biên, giữa xã Phú Mỹ và xã Boeng Sala Khang Tboung, giữa xã Tân Khánh Hòa với xã Prây Crớ...góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác cùng phát triển.

* Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có chuyển biến tiến bộ trên nhiều mặt

Ban chấp hành Đảng bộ huyện luôn ra sức thực hiện phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Chỉ đạo nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chuẩn và bố trí sử dụng cơ bản phù hợp với trình độ đào tạo và sở trường nên chất lượng có nâng lên; công tác kiểm tra giám sát được các cấp ủy lãnh đạo thực hiện chặt chẽ, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, sai phạm và năng lên tinh thần trách nhiệm, tiêu biểu, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Công tác tập hợp, vận động quần chúng thực hiện các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có nhiều tiến bộ, nhất là thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM và giảm nghèo bền vững; tập trung lãnh đạo tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI-XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Ngày mới thành lập, đảng bộ huyện có 6 tổ chức cơ sở đảng với 538 đảng viên, sau 10 năm tăng cường công tác chăm bồi, kết nạp đảng viên hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch, đến nay Đảng bộ có 31 tổ chức cơ sở (tăng 5 lần), với gần  1.200 đảng viên (tăng 2,3 lần so với 2009). Hàng năm có trên 86,63% cơ sở đảng và trên 86,02% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tập trung lãnh đạo HĐND, UBND thực hiện tốt chức năng giám sát, quản lý, điều hành trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh. Lãnh đạo chỉ đạo hoạt động của MTTQ và các đoàn thể hướng về cơ sở; tăng cường tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, đoàn viên, hội viên chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; các phong trào, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

 

Kết quả mười năm xây dựng và phát triển của huyện trong điều kiện có những thuận lợi và nhiều khó khăn đan xen và càng không thể so sánh với các huyện bạn trong tỉnh, nhưng đó là những nỗ lực lớn, sự phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân trong huyện, quan trọng hơn là huyện nhận được sự quan tâm đặc biệt của  Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự giúp đỡ của các sở, ban ngành cấp tỉnh và sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, từ thiện đã góp sức mình vào sự phát triển của huyện.

Kết quả đạt được là to lớn, song nhìn lại, huyện cũng nhận ra rằng còn nhiều khó khăn, hạn chế, yếu kém. Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2020-2025 đã đánh giá:

Kinh tế phát triển còn chậm và chưa thực sự vững chắc. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp chưa nhiều, việc nhân rộng một số mô hình hiệu quả thực hiện còn chậm. Thương mại - dịch vụ, kinh tế biên mậu phát triển chậm. Đầu tư kết cấu hạ tầng, thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo gặp nhiều khó khăn về nguồn lực thực hiện. Chưa thu hút được đầu tư, nhất là cơ sở sản xuất và cơ sở thương mại-dịch vụ lớn để tạo chuyển biến phát triển kinh tế-xã hội của huyện. Mặt bằng dân trí, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới cao, xóa nghèo chưa căn cơ, bền vững, dễ phát sinh mới và tái nghèo; lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa, y tế, bảo vệ môi trường còn một số mặt hạn chế. Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là trong đồng bào dân tộc Khmer còn khó khăn. Quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo từng lúc, từng nơi chưa chặt. Tình hình lấn chiếm đất đai, tranh chấp, khiếu kiện trong nhân dân có nơi còn tiềm ẩn phức tạp. Một số ít tập thể, cá nhân chưa quyết tâm, quyết liệt nhìn nhận và khắc phục hạn chế, khuyết điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI và khóa XII). Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức đảng có mặt chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; năng lực cụ thể hóa, tổ chức thực hiện nghị quyết, kế hoạch của cấp trên và cấp ủy đề ra có nơi chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao.

Những hạn chế trên có nguyên nhân khách quan do điểm xuất phát của huyện thấp, nhu cầu đầu tư phát triển lớn nhưng nguồn lực hạn chế, thời tiết, khí hậu, dịch bệnh từng lúc diễn biến phức tạp, bất lợi,... nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Đó là, vai trò lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền trên một số lĩnh vực chưa tập trung, quyết liệt; một số ít cấp ủy viên, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa chấp hành nghiêm quy chế làm việc, năng lực cụ thể hóa triển khai thực hiện một số mặt còn yếu; sự phối hợp của các ngành, các cấp có mặt chưa chặt chẽ, đồng bộ; sự gắn kết giữa công tác chỉ đạo, điều hành với kiểm tra, giám sát, khắc phục hạn chế, đề ra giải pháp thực hiện chưa kịp thời. Tinh thần trách nhiệm, trình độ, năng lực, sự nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên, người đứng đầu có mặt chưa đạt yêu cầu.

Thời gian tới, tình hình chung có những thuận lợi cơ bản: Trung ương, tỉnh tiếp tục có chủ trương tập trung đầu tư phát triển kinh tế-xã hội đối với vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số nên huyện sẽ tiếp tục được ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư phát triển; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đã và đang triển khai thực hiện sẽ phát huy hiệu quả trong thời gian tới; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục ổn định; năng lực, kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức tiến bộ, toàn diện…

Song, vẫn còn nhiều khó khăn, trở ngại trong thực hiện nhiệm vụ: Khả năng nguồn lực, nhất là vốn đầu tư kết cấu hạ tầng; kiến thức áp dụng khoa học, công nghệ, quy trình sản xuất tiên tiến vẫn hạn chế so với nhu cầu đẩy nhanh và phát triển bền vững của huyện. Các yếu tố về biến đổi khí hậu, dịch bệnh sẽ tác động lớn đến sản xuất; còn thiếu những điều kiện để thực hiện các giải pháp cơ cấu lại ngành nông nghiệp; yêu cầu liên kết sản xuất, sản xuất an toàn và ổn định đầu ra sản phẩm đặt ra thách thức về nhiệm vụ và giải pháp. An ninh nông thôn, an ninh biên giới còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp. Các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá ta trên nhiều lĩnh vực. Tình hình khiếu nại, tranh chấp đất đai còn tiềm ẩn phức tạp.

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, quân và dân trong huyện Giang Thành cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa, cùng với sự đoàn kết, nhất trí cố gắng vượt qua khó khăn, thách thức để thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát mà phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2020-2025 dự kiến trình Đại hội XIII của huyện, đó là: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ uy tín, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; tiếp tục phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường với đảm bảo quốc phòng-an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới. Tranh thủ huy động nhiều nguồn lực đầu tư phát triển,. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao giá trị, hiệu quả sản xuất nông nghiệp; chú trọng phát triển thương mại-dịch vụ, kinh tế biên mậu; giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, xóa nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Hoàn thành tiêu chí nông thôn mới cấp huyện.

 

[1] Hình thành vùng trồng hoa màu chuyên canh 20 ha, diện tích còn lại trồng xen canh 1 vụ lúa – 1 vụ màu.

[2] Các loại cây trồng Xoài 18,8 ha, dừa 15,6 ha, chanh 15 ha, nhàu 15 ha, mãng cầu 14 ha, khóm 10,5 ha, …

[3] : Vốn ngân sách trực tiếp cho chương trình: 83,472 tỷ đồng; vốn lồng ghép: 466,528 tỷ đồng.

[4] Vận động Tổng Công ty xi măng Việt Nam 29 tỷ xây dựng Trường Vĩnh Phú B, cầu và đường T3; vận động nhân dân và các mạnh thường quân đóng góp 1.354 ngày công lao động, 9 tỷ đồng xây dựng 32 cây cầu nông thôn, 4,2km đường giao thông nông thôn; hiến 6.175 m2 đất để xây dựng trường học; Uỷ ban MTTQ huyện vận động hỗ trợ cất 34 căn nhà với tổng trị giá trên 1,7 tỷ đồng.

[5] Tỷ lệ cứng hóa giao thông nông thôn đạt 82% (NQ là 80%); tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99%; tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 96% (NQ 80%); hệ thống chính trị được chăm lo xây dựng, đội ngũ cán bộ được quan tâm đưa đi đào tạo, tỷ lệ cán bộ đạt chuẩn ngày càng nâng lên...

[6] Vĩnh Điều đạt 17 tiêu chí, Vĩnh Phú đạt 15 tiêu chí, Phú Lợi đạt 13 tiêu chí.

Ban Tuyên giáo Huyện ủy